Các sinh viên quốc tế khi đến Mỹ sẽ có thể muốn biết về việc học tập trước đây của các bạn Mỹ cùng lớp. Do sự thay đổi bản địa, hệ thống giáo dục Mỹ có vẻ rắc rối khó hiểu. Thêm vào đó, cấu trúc và thủ tục của các trường đại học Mỹ có phần khác biệt với các hệ thống khác như Anh chẳng hạn. Đây là một cái nhìn tóm tắt về hệ thống trường trung học và đại học Mỹ.
Đầu tiên, do là quốc gia có hệ thống nhà nước liên bang và giá trị lịch sử trong cai trị bản địa nên không có hệ thống giáo dục cấp quốc gia hay chương trình quốc gia nào tồn tại tại Mỹ.  Nhà nước liên bang không vận hành các trường trung học công lập. Mỗi bang trong số 50 bang có sở giáo dục của riêng mình và chỉ đạo các trường trung học trong bang đó. Các trường công lập cũng nhận được sự tài trợ từ bang và từ nguồn thuế bất động sản tại địa phương. Các trường cao đẳng và đại học công lập nhận sự tài trợ từ bang của họ. Cơ quan lập pháp của mỗi bang quyết định sẽ tài trợ cho các trường cao đẳng và đại học công lập bao nhiêu. Học sinh từ lớp 1 đến lớp 12 không phải trả học phí. Sinh viện cao đẳng và đại học phải trả học phí nhưng có một số sinh viên xin học bổng hoặc nhận các khoản vay hỗ trợ.


Sơ đồ hệ thống giáo dục Mỹ



Phần lớn việc kiểm soát các trường trung học công lập dựa vào mỗi quận tại địa phương. Mỗi trường quận được cai quản bởi một ban giám đốc trường - một hội đồng nhỏ được bầu ra bởi cộng đồng địa phương hoặc được chỉ định bởi chính quyền địa phương. Ban giám đốc trường lập ra những qui định chung cho trường quận và đảm bảo thỏa mãn các qui định của bang.
Chung qui, các trường quận được chia thành nhóm các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Các trường tiểu học giáo dục trẻ ở bậc mẫu giáo và từ lớp 1 đến lớp 5. Đa số trẻ em đến trường khi được 5 tuổi.  Trẻ em vào lớp một khi được 6 tuổi. Trung học cơ sở giáo dục trẻ em từ lớp 6 đến lớp 8 và trung học phổ thông giáo dục từ lớp 9 đến lớp 12.


Học sinh trung học phổ thông được yêu cầu học rất nhiều môn học như Anh ngữ,  toán, khoa học và khoa học xã hội. Ngoài ra cũng có thể bị yêu cầu học ngoại ngữ hoặc giáo dục thể chất và có thể chọn học học âm nhạc, nghệ thuật hoặc các khóa học về kịch nghệ. Một số trường trung học phổ thông giảng dạy các khóa học nghề. Khóa học có thể kéo dài trong 1 hoặc 2 học kỳ.  Năm học thường khai giảng trung tuần tháng 8 và kết thúc và đầu tháng 6.
Tại Mỹ, giáo dục là bắt buộc đối với trẻ em cho tới 16 hoặc 18 tuổi tùy theo từng bang. Theo Cục điều tra dân số Mỹ,  89% công dân ở độ tuổi từ 18 đến 24 đã tốt nghiệp torng năm 2006. Đa số học sinh tốt nghiệp phổ thông ở độ tuổi 17 hoặc 18. Học sinh tốt nghiệp sau khi đã hoàn tất các môn học. Học sinh sẽ được xếp thứ hạng ở cuối học kỳ. Các thứ hạng lần lượt là A (giỏi), B (khá), C (trung bình, D (kém) và F (rớt). Học sinh bị rớt  môn học nào phải học lại môn học đó. 

Theo báo cáo của Cục điều tra dân số Mỹ, 58% học sinh tốt nghiệp phổ thông ghi danh vào các trường cao đẳng hoặc đại học trong năm 2006. Sinh viên có thể chọn học 2 năm cao đẳng cộng đồng trước khi học 4 năm đại học. Cao đẳng cộng đồng có yêu cầu đầu vào dễ hơn, học phí thấp hơn và lớp học thường nhỏ hơn trường đại học. Các sinh viên cao đẳng cộng đồng sẽ tốt nghiệp với bằng Cao đẳng chuyển tiếp đại học (Associate degree) và được miễn giảm 2 năm cho chương trình đại học.

Xét tuyển đại học:
Tuy rằng chính sách xét tuyển thay đổi tùy trường đại học nhưng vẫn có vài điều kiện chung như các môn học tại trường phổ thông, kết quả tốt nghiệp phổ thông, các hoạt động ngoại khóa, điểm SAT (Scholastic Attitude Test) hoặc ACT ( American College Testing), bài luận và có khả năng là một cuộc phỏng vấn riêng.
  • Viên chức xét tuyển đại học sẽ cân nhắc học sinh đã học các khóa học trong chương trình trung học phổ thông có thể chuẩn bị tốt cho chương trình học tại đại học hay không. Điểm tốt nghiệp cũng sẽ được cân nhắc. Hạng A  là định lượng cho thứ hạng học sinh đã đạt được. Mỗi thứ hạng sẽ được gắn liền với điểm số: A = 4, B = 3, C = 2, D = 1 và F = 0. Loại A được tính bằng tổng số điểm các khóa học chia cho tổng số khóa học. Ví dụ, điểm 3 loại B là điểm trung bình của tất cả các khóa đã học.
  •  Viên chức xét tuyển đại học muốn thấy đơn của những học sinh trung học phổ thông đã tham gia các hoạt động ngoại khóa như tham gia các câu lạc bộ học tập, đội thể thao, hội sinh viên và các câu lạc bộ từ thiện. Việc tình nguyện tham gia các hoạt động này chỉ ra rằng những học sinh đó đã học được những bài học giá trị về cuộc sống như tinh thần đồng đội, lãnh đạo hay  trách nhiệm công dân.
  •  Phần lớn các học sinh ở Mỹ đi thi SAT Reasoning Text (trước đây gọi là Scholastic Aptitude Test) hoặc ACT (trước đây gọi là American College Testing) khi học năm cuối trung học phổ thông. Mỗi trường đại học qui định một điểm SAT hoặc ACT tối thiểu cho những học sinh nào muốn trúng tuyển. Đây là những bài thi chuẩn hóa. Bài thi SAT kiểm tra khả năng đọc hiểu, toán, và các kỹ năng viết. Bài thi ACT kiểm tra trình độ Anh ngữ, toán, đọc và cách suy luận khoa học bao gồm tùy chọn bài thi viết.
  •  Các trường đại học thường yêu cầu sinh viên viết một bài luận như là một phần của thủ tục xét tuyển. Mỗi trường sẽ quyết định về độ dài và nội dung của bài luận. Sinh viên có thể sẽ bị yêu cầu tham dự một cuộc phỏng vấn riêng với viên chức xét tuyển.
Tại trường đại học:
Sinh viên đại học theo học chương trình cử nhân được gọi là "sinh viên đại học" trong khi đó sinh viên theo học chương trình thạc sỹ được gọi là "sinh viên sau đại học".  Sinh viên đại học Mỹ thường nói "đến trường" hoặc "đến trường cao đẳng" có nghĩa là họ đang học đại học. Một câu hỏi phổ biến khi một học sinh hỏi "chuyên ngành của bạn là gì ?" có nghĩa là bạn học ngành gì ?
Đa số các trường đại học mang lại cho sinh viên "giáo dục khai phóng" có nghĩa là sinh viên được yêu cầu học các môn học thuộc nhiều lĩnh vực trước khi tập trung vào chuyên ngành. Sinh viên sau đại học và các chương trình chuyên môn như Y hay Luật đều là chuyên ngành.
Tại đại học, đa số các khóa học chỉ kéo dài 1 học kỳ. Mỗi khóa được ấn định bởi môt số tín chỉ. Tín chỉ thường dựa trên thời gian học tại lớp trong một tuần. Phần lớn các khóa có 3 tín chỉ. Tuy nhiên, một số có thể có 1, 2, 4 hoặc 5 tín chỉ. Tất cả các chương trình cử nhân yêu cầu sinh viên phải hoàn tất một số tín chỉ tối thiểu trước khi tốt nghiệp. Đa số các chương trình cử nhân tại Mỹ không yêu cầu sinh viên viết luận án tốt nghiệp.

Xét tuyển sau đại học dựa trên một số điều kiện. Bao gồm hoàn tất chương trình cử nhân, ngành học, điểm trung bình tốt nghiệp. Sinh viên được yêu cầu viết luận khi nộp đơn. Đa số các chương trình thạc sỹ yêu cầu sinh viên phải có điểm thi tốt nghiệp (Graduate Record Examination-GRE) tối thiểu. Bài thi GRE kiểm tra ngôn ngữ luận, định lượng luận, tư duy và các kỹ năng viết phân tích.
Sinh viên có thể tiếp tục học sau đại học. Phần lớn các chương trình thạc sỹ yêu cầu sinh viên viết luận văn. Sinh viên theo học chương trình tiến sĩ học cho tới khi đủ tín chỉ để hoàn tất kỳ đánh giá thường diễn ra trong vài ngày và thường bao gồm cả phần viết và thuyết trình. Sau khi sinh viên tiến sĩ hoàn tất, được tiến tới ứng cử cho học hàm và có thể bắt đầu viết luận án. Trước khi học hàm được trao, bài luận án hoàn chỉnh phải được thuyết trình bảo vệ trước hội đồng chuyên khoa. 
Do yêu cầu đầu vào đa dạng và thay đổi tùy theo trường đại học và phân khoa vì vậy sinh viên nên kiểm tra với trường đại học và chuyên khoa của họ để đảm bảo họ có đủ điều kiện.
Biên tập bởi Susan E. Hume, Ph.D., Assistant Professor, Department of Geography, Southern Illinois University Edwardsville.
Nguồn Internationalstudentguidetotheusa

0 nhận xét Blogger 0 Facebook

loading...

 
Edu dị truyện ©Email: tailieuchogiaovien@gmail.com. All Rights Reserved. Powered by >How to best
Link:Bantintuvan|tailieusupham|khoahocsupham|SKKN hay|Soidiemchontruong|dayvahoctot|diemthivao10hoctrenmobile|tradiemthituyensinh|How to best
Top