Tô Văn Trường
TS Đăng Kim Sơn
Sau khi tôi viết bài “Toàn cảnh màu xám của ngành nông nghiệp” được rất nhiều bạn đọc trong và ngoài ngành quan tâm, chia sẻ. Có ý kiến cho rằng khuyết điểm của ngành thì bộ trưởng gánh chịu trách nhiệm là phải nhưng tham mưu “chỉ lối, dẫn đường” cho ông là ai? Nhiều chuyên gia kỳ cựu trong ngành kể cho tôi nghe tường tận về “bồ ruột” của bộ trưởng, là tiến sĩ  Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông thôn (IPSARD). Tham khảo các nguồn thông tin, tư liệu, điều tra đối chiếu với thực tế, tạm thời vẽ lên chân dung của “người cầm đèn chạy trước ô tô”  của Bộ NN&PTNT thành viên Hội đồng lý luận trung ương, tiến sĩ Đặng Kim Sơn.

Trước hết, xin được lược qua tiểu sử của anh Đặng Kim Sơn: Sinh năm 1954 tại Thái Bình, tốt nghiệp đại học Nông nghiệp ngành nông hóa năm 1976. Từ 1977-78: tham gia Quy hoạch nông nghiệp Đồng bằng Sông Cửu Long. 1979-1980: làm việc tại Tổng cục khai hoang kinh tế mới. 1980-1983: Nông trường Thanh Niên, Hà Tiên, Kiên Giang. 1984 -1996: Trung tâm chuyển giao kỹ thuật Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long, Cần Thơ. 1997-2000: Vụ Chính sách, Bộ NN&PTNT. 2001-2005: Trung tâm Thông tin NN&PTNT. Từ 2005 đến nay: Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT.
Công bằng mà nói những thành tích của anh Sơn thời kỳ còn ở Nông trường Thanh Niên và khi về công tác Viện lúa Ô môn không có gì đáng nhớ ngoại trừ những điều tiếng liên quan đến mối quan hệ giữa anh và những người bạn đồng môn, đồng nghiệp của mình. Tiếng tăm của anh Sơn  thực sự chỉ “nổi như cồn” khi anh được Bộ trưởng Cao Đức Phát bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện Kinh tế (nay là Viện Chính sách & Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn) với những mẩu chuyện đăng trên các mặt báo tự PR (đánh bóng) tên tuổi mình (ví dụ “Tiến sỹ Đặng Kim Sơn: Người cầm đèn chạy trước ô tô”, “Không đủ tiêu chuẩn thì rời vị trí”, “Đặng Kim Sơn: Kệ nhanh, kệ chậm! miễn hiệu quả!” vv…).
Từ những ngày đầu được điều về làm Viện trưởng Viện Kinh tế (nay là IPSARD) anh Sơn đã hăng hái bắt tay vào “Đổi mới” Viện với hành động mạnh tay đầu tiên là hạ bệ một loạt các trưởng và phó bộ môn cũ của Viện. Một số lãnh đạo cũ không thể hoặc không tiện hạ bệ ngay (vì họ đáp ứng đủ mọi tiêu chuẩn đặt ra về học hàm, học vị lẫn ngoại ngữ) thì bị vô hiệu hóa bằng cách giao cho những việc “vặt vãnh”!
Việc vô hiệu hóa một số lãnh đạo và hạ bệ các trưởng bộ phận cũ không mấy khó khăn do trước đó Viện đã có kinh nghiệm đau đớn về việc các phe phái “đánh nhau” và mọi người đều hiểu là khi đánh nhau thì người ở cả hai chiến tuyến cùng rơi vào kết cục “Trạng chết thì Chúa cũng băng hà”! Ngoài ra, vì biết rằng các trưởng/phó bộ môn và trưởng/phó các phòng chức năng cũ hầu hết không biết ngoại ngữ, cũng chẳng ai đủ dũng cảm tự nhận mình là người có thể chủ động kiếm việc về nuôi quân nên anh Sơn đã tập hợp họ lại và nói đại ý: “Trưởng phòng, bộ môn trước hết phải là đầu tàu, chủ động tìm được việc, đi đấu phải thắng thầu cả đề tài Nhà nước và quốc tế. Các đồng chí trưởng bộ môn: Ai ở đây có thể làm được điều đó?”. Tất nhiên hầu hết đều lắc đầu. Thế là việc vô hiệu hóa và hạ bệ một loạt lãnh đạo cũ của Viện diễn ra suôn sẻ.
Song song, với việc hạ bệ một loạt lãnh đạo bộ môn cũ anh Sơn xây dựng cái gọi là Trung tâm Xuất sắc (Center of Excellency) để thu hút nhân tài, tạo lập Viện chính sách như là đơn vị “think tank” về chính sách, chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn. Kết quả của một trung tâm xuất sắc hay một Viện chiến lược tham mưu cho Bộ như thế nào thì đến nay chắc mọi người đều rõ. Xin được điểm qua một vài nét chính:
Kết quả đầu tiên phải kể đến là sự phá sản của ý tưởng tập hợp toàn những người “cực giỏi” là những thủ khoa, tiến sỹ và thạc sỹ tốt nghiệp các trường nổi tiếng trên thế giới vào cái gọi là Trung tâm xuất sắc. Công bằng mà nói, ban đầu anh Sơn cũng tập hợp được một số cán bộ trẻ được đào tạo bài bản ở các nước tư bản như Mỹ, Úc, Pháp, Canada, Nhật, Hà Lan, v.v. Rất nhiều người trong số này đi theo anh vì bị anh thuyết phục bằng mức lương cao “ngàn đô/tháng”, điều kiện làm việc tốt, v.v. Bên cạnh đó, cũng không ít người đi theo anh vì họ đã xem anh là thần tượng của mình. Phải nói rằng anh Sơn rất giỏi trong khoa nói, nhưng đừng nghe anh ấy nói, hãy xem anh ấy làm.
Một trong số những việc làm đáng ngưỡng mộ nhất của anh Sơn là đã không thương tiếc “chém cả đệ tử ruột” của mình – người được đánh giá là có năng lực và đã theo anh Sơn từ thuở hàn vi để rồi cán bộ này phải chuyển sang một Viện nghien cứu khác. Ngoại trừ phần đông các tiến sỹ, thạc sỹ của trung tâm đến với anh Sơn vì bị thuyết phục bởi mức tiền lương hấp dẫn nên khi hết tiền dự án cũng đã “say good bye forever”, còn lại một số khác mặc dù đến với anh không hẳn vì tiền mà vì ngưỡng mộ anh nên sẵn sàng ở lại ngay cả khi không có “lương ngàn đô” nhưng do “không hợp” với anh Sơn kể cả về quan điểm khoa học hay cung cách quản lý cũng được anh “thu xếp” phải ra đi.
Ở đây cần nói thêm rằng những người theo anh vì đã từng thần tượng anh đã mắc sai lầm khi ảo tưởng rằng những góp ý mang tính xây dựng của mình sẽ được anh trân trọng đón nhận, nhưng thực tế không phải vậy. Bất cứ ai có chủ kiến đều khó có thể đồng hành cùng anh Sơn, ngược lại, để có thể đồng hành cùng anh phải biết “gọi dạ, bảo vâng”.
Anh Sơn vẫn hay nói “người ta đến vì đồng lương còn ra đi là vì quan hệ”, ngẫm lại thấy nó đúng làm sao!!! Sự ra đi của những người này dẫn đến tình trạng hiện nay Viện thiếu vắng người đủ tầm kế vị và đó là “lý do chính đáng” để anh Sơn phải chạy lên Bộ làm đơn xin kéo dài thời gian công tác, hoãn nghỉ hưu thêm 01 năm để củng cố Viện mặc dù trước đó anh tung tin giả bộ rằng mình muốn nghỉ hưu sớm. Dư luận mất lòng tin và cho rằng gần 10 năm làm Viện trưởng còn chẳng củng cố được, liệu 1 năm kéo dài có là đủ, hay chỉ là thời gian để anh chuẩn bị cho chính sách “hậu Đặng Kim Sơn”?
Còn nhớ, ngày đầu mới về Viện anh Sơn đã có những phát biểu hùng hồn làm nhiều người ngưỡng mộ: “Hồi mới về, nhìn tên các đề tài nghiên cứu tôi đã cảm thấy đa số đều có xu hướng làm để kiếm tiền”; “Chúng ta ăn cơm dân, mặc áo dân, muốn cho tất cả các đề tài này sống được thì tự nó phải có chất lượng”; “Phải thành lập hội đồng tư vấn độc lập để tổ chức nghiệm thu đề tài”; “Người được mời tư vấn trong Hội đồng này phải giỏi hơn hẳn Viện trưởng và những người làm đề tài về lĩnh vực chuyên ngành[1]; v.v. Thực tế thì hội đồng tư vấn chỉ tồn tại được một thời gian ngắn vì nếu không thì “gậy ông lại đập lưng ông”!.
Các đề tài mà anh Sơn giao cho nhóm “con đẻ” của mình làm thực sự chỉ mang tính chất giải ngân, thậm chí còn có hiện tượng “một gà ba cỗ”, điều mà trước đó chưa từng xảy ra ở Viện Kinh tế cũ. Nhiều đề tài, dự án tiêu tốn hàng tỷ đồng nhưng không có sản phẩm, ví dụ dự ánĐổi mới tổ chức ngành cà phê Việt Nam” thuộc “Chương trình cà phê bền vững Việt Nam”do IDH tài trợ với tổng kinh phí 4,23 tỷ đồng nhưng sản phẩm khoa học không có, chủ yếu là các hoạt động đối thoại và vận động chính sách và thể chế trong đó khoản chi lương cho 3 cán bộ phụ trách dự án chiếm 49,3% tổng kinh phí đã giải ngân tính đến thời điểm 14/5/2013.
Cần nói thêm rằng trong quá trình tổ chức lại Viện, anh Sơn đã dồn tất cả các cán bộ cũ vào bốn bộ môn sau đó lại dồn lại còn hai bộ môn gồm: i) Thể chế nông thôn, và ii) Chiến lược, Chính sách và lập nên Trung tâm Tư vấn chính sách (CAP), Trung tâm Tư vấn chính sách miền Nam (SCAP), trung tâm Thông tin (AGROINFO), và Trung tâm Phát triển nông thôn (RUDEC). Cán bộ của hai bộ môn hầu như chỉ tự sống ngắc ngoải bằng các đề tài đấu thầu trong nước, còn các đề tài quốc tế hầu hết được dồn cho CAP, SCAP, AGROINFO hoặc outsource ra ngoài.
Mặc dù trong vòng 6 năm kể từ 2006 đến 2012 số tiền dành cho nghiên cứu đến từ các dự án quốc tế là rất lớn, trung bình mỗi năm lên tới 40 tỷ đồng nhưng kết quả nghiên cứu và xây dựng Viện đến nay hầu như không có gì đáng kể.  Tự nhận là “think tank” của Bộ NN&PTNT nhưng tới nay Viện chưa hề đưa ra được chiến lược dài hơi nào cho ngành và cũng chưa đề xuất được những chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn nào cho ra hồn!
Là viện Chính sách, Chiến lược nhưng các hoạt động nghiên cứu của Viện hầu hết chỉ là “nghe nhạc hiệu đoán chương trình”. Lãnh đạo viện thì luôn phải nhìn mặt và dỏng tai nghe ý kiến của lãnh đạo cấp trên rồi cùng đồng thanh theo chứ không có và nếu có cũng không dám đưa ra chủ kiến của một cơ quan nghiên cứu độc lập. Thậm chí, một vài người có đủ dũng cảm để nói lên ý kiến độc lập của mình còn bị lãnh đạo viện “nhắc nhở” vì sợ động chạm.
Cầm đầu ngọn cờ đổi mới, tự nguyện thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định 115, nhưng kết quả là sau 2 hay 3 lần xây dựng tầm nhìn của Viện (visioning) với cả trăm nghìn đô la thuê tư vấn từ Úc, Pháp và Đan Mạch làm, cuối cùng cũng bỏ vào tủ khóa chặt. Mới đây, Viện lại có mặt trở lại trong danh sách cơ cấu tổ chức của Bộ NN và PTNT, chẳng khác nào một Cục, Vụ? Trong nhiều diễn đàn, giải thích về sự thất bại này người “cầm cờ” đổ tại cơ chế bó buộc, nhất là cơ chế quản lý tài chính và khoa học! Nhưng dư luận lại đặt câu hỏi “Chẳng lẽ các chuyên gia hàng đầu về chính sách gồm cả tây và ta tự nghiên cứu cho mình mà lại không hiểu và không lường trước khó khăn đó, phải để đến lúc làm đụng vào cơ chế mới biết? Và vì sao có nhiều phiên bản về “tầm nhìn” đến thế mà vẫn không rút được kinh nghiệm?” Cũng vì sự khó hiểu này mà dư luận cho rằng có lẽ hoặc là do sự kém cỏi của mấy ông tây hoặc là tại cái “chiến lược giải ngân” nó thế!.
Cũng là đi đầu, ít có Viện chính sách nào có phổ nghiên cứu rộng và bao quát như Viện chính sách và chiến lược PTNNNT. Tôi được biết, từ cái nhỏ đến cái to Viện đều nghiên cứu cả. Nhỏ thì là đi đào tạo nông dân Thái Bình quê tôi trở thành Osin ở thành thị những mong đề xuất với nhà nước chính sách chuyển đổi nghề ở nông thôn. Lớn hơn một tí là nghiên cứu phát triển các ngành hàng nông sản. Lớn hơn nữa là một loạt các Chiến lược phát triển Khoa học công nghệ nông nghiệp, đặc biệt là Viện đã từng xây dựng Chiến lược phát triển ngành nông nghiệp của Việt nam, từng giúp các bạn Lào xây dựng “Tam nông”.
Mỗi công trình này đều tiêu tốn cả bạc tỷ của nhà nước nhưng rồi kết quả đến đâu thì ai có thể trả lời được? Tôi hỏi những người bạn ở các Viện kỹ thuật nông nghiệp về Chiến lược KHCN của ngành nông nghiệp, và các chuyên gia lão thành về ngành nông nghiệp đều phán chung một câu trả lời “No comment- miễn bàn”. Cá nhân tôi thì tự hỏi phải chăng một Viện nghiên cứu chính sách đầu ngành cần phải tham mưu cho Bộ một chiến lược về phát triển ngành nghề nông thôn, lớn hơn là về chiến lược công nghiệp nông thôn chứ ai lại đi làm công việc của một trường nghề đào tạo Osin để rồi Osin cũng chẳng ra hồn Osin…
Tôi quê miền bắc, nhưng công tác lại gắn bó nhiều với miền Nam, đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long, một vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa lớn nhất của nước ta. Ở đây, câu chuyện “được mùa mất giá” luôn là bài toán khó với các cấp ngành từ Trung ương đến địa phương. Câu chuyện, doanh nghiệp, thương lái và cả nông dân “lật kèo” xảy ra như cơm bữa. Mà nguyên nhân là các bên đều thiếu thông tin, thiếu cách tổ chức sản xuất và thương mại các sản phẩm.
Mấy năm trước, được biết Viện của anh Sơn có hẳn một dự án “Phát triển hệ thống thông tin thị trường nông sản” do Canada tài trợ kinh phí đến cả mấy triệu đô la[2]. Dự án nhằm mục tiêu nâng cao năng lực cho người sản xuất rau quả và các bên liên quan ở 9 tỉnh/thành phía Nam, nơi sản xuất hàng hóa phát triển để tiếp cận, thu thập, phân tích và sử dụng thông tin nhằm ứng phó tốt hơn với các tín hiệu của thị trường, qua đó tăng hiệu quả sản xuất và lợi ích kinh tế. Vậy mà gần đây, khi báo chí kêu ca về tình trạng “được mùa mất giá” tôi có dịp đi xuống miền Tây và hỏi về hệ thống thông tin này thì chẳng ai biết hệ thống đó ở đâu? Bây giờ cái gì còn, cái gì mất ai có thể biết được? Dư luận cho rằng chắc nó đi theo dự án rồi. Nhưng có người lại nói có đâu mà mất?
Chưa hết, dự án do Chính phủ Tây Ban Nha tài trợ với tổng kinh phí 2,6 triệu Euro[3] hỗ trợ phát triển được bao nhiêu doanh nghiệp nhỏ và vừa, tôi không rõ, chỉ có bộ trưởng và bản thân Viện mới biết. Nhưng ai cũng biết rằng có thời Viện đã từng lập cả “Công ty mẹ – Công ty con” để đi buôn rau sạch. Nghe đã thấy buồn cười và tất nhiên là mô hình này làm sao có thể phát triển được bởi các chuỗi giá trị nông sản chất lượng mà các doanh nghiệp tư nhân bên ngoài và nông dân đang làm không cần mô hình “mẹ – con” như các tập đoàn nhà nước vẫn hay làm.
Cuối cùng, Viện cũng đã “thanh lý” các công ty vô tích sự này, tất nhiên là sau khi đã tiêu tốn không ít tiền của vào đây. Tài sản của dự án này vẫn còn một chiếc ô tô để chở rau, mua vội vàng trước khi dự án kết thúc, hiện vẫn để ở sân cơ quan chưa biết cho ai vì có quá nhiều doanh nghiệp nên không đủ chia hay vì chẳng có doanh nghiệp nào, cũng có thể là vì cơ chế quản lý như anh Sơn vẫn nói, cho nên xe thì vẫn để không mặc cho sương gió dãi dầu hoen gỉ? Tôi tự hỏi chẳng lẽ các nhà làm chiến lược lại không hiểu về tính phức tạp của thể chế mô hình công ty mẹ, công ty con? Đem ra bàn thì dư luận cho rằng cũng lại tại cái “bệnh giải ngân mà thôi”.
Có nhiều tiền để nghiên cứu là cái tài của nhà quản lý. Nhưng xin được nhiều tiền rồi mà không biết cách giải ngân thì cũng mệt. Tôi được biết cách đây vài năm, nhóm nghiên cứu của anh Sơn đã phải “xuất toán” trên 4,5 tỷ đồng trong một dự án do Danida tài trợ vì chi sai nguyên tắc. Và đó mới chỉ là con số kiểm toán của 1 năm (năm 2008) nhưng phải “đền” đến trên 4,5 tỷ thì ai đã làm quản lý đều phải sợ. Khó có thể nói chắc rằng trong cả dự án với vốn cấp lên đến 2,75 triệu đô la thực hiện trong 5 năm 2007-2012 sẽ không còn những sai sót kiểu đó? Ấy vậy, mà tôi được biết anh Sơn và nhóm nghiên cứu đã “bỏ tiền túi” và tự “thu hồi” để trả số tiền này. Quả là có trách nhiệm!
Nhưng dư luận lại băn khoăn là tại sao cả một Viện sai, lại phải để một cá nhân và một nhóm người phải “sửa sai”? Tôi còn nhớ hồi đó, ngoài Viện chính sách cũng có 1 – 2 Viện khác của Bộ NN và PTNT cũng có “sai sót” với các dự án của Danida tài trợ với số tiền phải xuất toán nhỏ hơn, nhưng tôi không nghĩ điều này lại xảy ra đối với Viện và cá nhân anh Sơn, một cơ quan tham mưu về cơ chế chính sách và đầy kinh nghiệm trong giải ngân các dự án quốc tế. Có người am hiểu sự tình, lắc đầu châm biếm “đền chi, mỡ nó rán nó cả thôi!”
Tôi thống kê chưa đầy đủ, chỉ tính từ năm 2006-2013 chỉ riêng 16 dự án hợp tác quốc tế (phần lớn ODA) của IPSARD do anh Sơn chỉ đạo thực hiện tổng số vốn phê duyệt 11.517.687 đô la, tổng số tiền bằng đồng lấy tròn 203 tỷ đồng. Anh Sơn có hẳn trang trại lớn ở Lương Sơn, lấy tên “Đặng gia trang”. Trang trại này rộng khoảng 3 ha, có cả bể bơi, điện mặt trời và người trông coi trang trại từng có thời gian được thuê từ tiền lấy từ dự án Tây Ban Nha.  
Cách đây vài tháng, tôi và anh Sơn cùng tham gia nhóm chuyên gia tư vấn cho dự án của Hà Lan về Mekong Delta. Chúng tôi trò chuyện về chuyên môn như những người đồng hương. Mặc dù vậy, với trách nhiệm của nhà khoa học, nhà báo công dân và vì sự phát triển của ngành, tôi không thể viết khác những điều mà mình biết!
Trên đây là một vài nét sơ lược về tiến sỹ Đặng Kim Sơn để mọi người có thêm thông tin hiểu rõ hơn về một “nhà nông học xuất sắc của Việt Nam”, “Người cầm đèn chạy trước ô tô”, “Người nghĩ mở, nói thẳng”, “một tấm lòng chan chứa tình cảm, luôn trăn trở với các vấn đề nông nghiệp, nông thôn – lĩnh vực cả đời ông gắn bó!!!”.
-*-

*-*
Câu chuyện giáo dục: Những câu chuyện có thật về giáo dục đương đại. Bạn có câu chuyện về giáo dục, hãy gửi tới: schoolnetviet2@gmail.com Nếu copy sang trang khác, vui lòng ghi rõ nguồn bài viết hoặc gắn link bài viết.

0 nhận xét Blogger 0 Facebook

loading...

 
Edu dị truyện ©Email: tailieuchogiaovien@gmail.com. All Rights Reserved. Powered by >How to best
Link:Bantintuvan|tailieusupham|khoahocsupham|SKKN hay|Soidiemchontruong|dayvahoctot|diemthivao10hoctrenmobile|tradiemthituyensinh|How to best
Top